
nền kinh tế mà đặc trưng là dựa trên cơ sở lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu của nhân dân lao động về các tư liệu sản xuất chủ yếu, dưới hai hình thức: sở hữu toàn dân (do nhà nước là người đại diện pháp lí, gọi là sở hữu nhà nước) và sở hữu tập thể của những người lao động. Xét về nguyên lí và bản chất, nền KTXHCN không có người bóc lột người, nhân dân lao động và các dân tộc được thoát khỏi áp bức, bóc lột và bất công xã hội, được tự do, bình đẳng và tự nguyện liên kết, hợp tác với nhau trong sản xuất, và trong phân phối hưởng thụ theo lao động, có cuộc sống ấm no và hạnh phúc, có điều kiện phát triển cá nhân toàn diện trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa.
Nền KTXHCN ra đời từ sau khi Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga thành công, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản và lập nên nhà nước chuyên chính vô sản của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nó hình thành trên cơ sở phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa, thay thế cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, trải qua một thời kì lịch sử lâu dài quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Đó là một quá trình phấn đấu lâu dài, gian khổ để phát triển lực lượng sản xuất và khoa học - kĩ thuật nhằm xây dựng cơ sở vật chất - kĩ thuật hiện đại đi đôi với cải tạo các quan hệ sản xuất, xây dựng và hoàn thiện các quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát triển văn hoá và xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế quốc dân trong thời kì quá độ là một nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó thành phần KTXHCN ngày càng lớn mạnh và đóng vai trò chủ đạo. Nền KTXHCN là một nền kinh tế sản xuất hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lí của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhà nước xã hội chủ nghĩa từng bước khắc phục tính tự phát và những khuyết tật của thị trường nói chung và của thị trường tự do dựa trên chế độ tư hữu (như đầu cơ, cạnh tranh phi pháp, trốn thuế, buôn lậu...), hướng nền kinh tế phát triển có kế hoạch đi lên chủ nghĩa xã hội. Nền KTXHCN được xây dựng trên cơ sở học thuyết Mac - Lênin về chủ nghĩa xã hội khoa học và kinh tế học chính trị xã hội chủ nghĩa. Nhiều nước sau khi đã thiết lập nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, bắt tay vào xây dựng nền KTXHCN đã mắc phải chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí, trái với học thuyết Mac - Lênin, cho nên đã phạm nhiều sai lầm về đường lối và chiến lược. Tuy thời gian đầu, những nước ấy đã tạo được một bước phát triển nền kinh tế với tốc độ cao, thu được nhiều thành quả to lớn về kinh tế - xã hội, nhưng nền kinh tế dần dần rơi vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng, và thậm chí ở nhiều nước còn dẫn đến sự suy sụp cả chế độ chính trị.
Trên thực tế, công cuộc xây dựng nền KTXHCN ở những nước sau khi cách mạng xã hội chủ nghĩa thắng lợi là đi từ cơ sở nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, hay nền kinh tế thực dân, phong kiến, nửa phong kiến lạc hậu; cho nên đó là một quá trình cải biến cách mạng lâu dài, gian khổ qua thời kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Trong thời kì quá độ, nền kinh tế còn là một nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó KTXHCN ngày càng đóng vai trò nền tảng, dựa trên cơ sở đại công nghiệp cơ khí hoá và quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Xã hội trong thời kì quá độ còn chứa đựng mâu thuẫn giữa 2 con đường, xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, theo nguyên tắc "ai thắng ai ?".
Việt Nam sau khi thoát khỏi chế độ thực dân nửa phong kiến, đã chuyển sang giai đoạn quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, phát triển nền kinh tế quốc dân theo hướng xã hội chủ nghĩa, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Trong điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước xuất phát từ một nền kinh tế vốn lạc hậu, lại trải qua hàng chục năm chiến tranh với hậu quả rất nặng nề, công cuộc xây dựng nền KTXHCN ở Việt Nam phải trải qua một thời kì lịch sử tương đối lâu dài với nội dung xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước, trong đó thành phần kinh tế quốc doanh dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất giữ vai trò chủ đạo; đồng thời phát huy mọi tiềm năng vật chất và trí tuệ của dân tộc, tiềm năng kinh tế và quản lí của các thành phần kinh tế - xã hội khác; mở rộng quan hệ quốc tế, nghiên cứu những hình thức quá độ thích hợp để từng bước xây dựng nền KTXHCN và chủ nghĩa xã hội mang đậm đà bản sắc dân tộc.